(TN&MT) - Báo cáo trong Hội thảo tham vấn kết quả các gói thầu của Dự án Quản lý an toàn các chất ô nhiễm hữu cơ khó phân huỷ (POP) và hoá chất nguy hại (PTS) tại Việt Nam (ngày 19,20/6 tại Hải Phòng) cho thấy tình trạng phát thải Thuỷ ngân đáng báo động.
Nhằm giảm thiểu các rủi ro môi trường tác động tới sức khoẻ của con người, Quỹ Môi trường toàn cầu (GEF) đã uỷ thác thông qua Chương trình Phát triển Liên hợp quốc (UNDP) để tài trợ dự án “Quản lý an toàn các chất ô nhiễm hữu cơ khó phân huỷ (POP) và hoá chất nguy hại (PTS) tại Việt Nam”.
Dự án được thực hiện từ tháng 12/2015 tới tháng 7/2020 trên phạm vi toàn quốc, chủ dự án là Tổng cục Môi trường (Bộ Tài nguyên và Môi trường) phối hợp thực hiện cùng Cục Hoá chất (Bộ Công thương). Kết quả đầu ra sẽ được đưa vào làm căn cứ để sửa đổi các văn bản quy phạm pháp luật như: Luật Hóa chất; Các Nghị định, Thông tư liên quan … giúp Việt Nam giải quyết và kiểm soát được các vấn đề về môi trường trong tương lai.
Phát thải thuỷ ngân qua sản phẩm dân dụng
Dự án được phân bổ thành 4 hợp phần, với 30 gói thầu, cho ra 82 sản phẩm/ kết quả. Trong đó, Tổng cục Môi trường chủ trì triển khai 24 gói thầu, 06 gói thầu còn lại do Cục Hoá chất chủ trì thực hiện.
Trong hợp phần 4 của dự án (kiểm kê thuỷ ngân quốc gia và xây dựng chiến lược giảm phát thải), đại diện nhà thầu Cục hoá chất và nhà thầu Mecie cho thấy kết quả kiểm kê lượng phát thải thuỷ ngân tại Việt Nam đáng lo ngại.
Báo cáo tại hội nghị, đại diện Cục Hoá chất cho biết, các sản phẩm chứa thuỷ ngân được sử dụng rộng rãi trong các bệnh viện bao gồm: Áp kế; nhiệt kế; và hỗn hống nha khoa. Trong khi lượng áp kế và hỗn hống nha khoa sử dụng không đáng kể thì lượng nhiệt kế sử dụng là rất lớn và phổ biến. Số liệu cụ thể cho thấy, từ năm 2016 tới năm 2018, bệnh viện Hữu nghị Việt Đức mua mới 5.696 chiếc, bệnh viện Trung ương Huế mua mới 2.628 chiếc còn bệnh viện Đa khoa Quốc tế Hải Phòng mua mới tới 22.967 chiếc.
Theo thống kê của Bộ Y tế, Việt Nam hiện có: 1065 bệnh viện; 1081 trung tâm y tế; 998 phòng khám đa khoa; 11.121 trạm y tế cấp xã, phường và 20.961 cơ sở khám chữa bệnh thuộc mọi thành phần kinh tế. Qua số liệu từ 03 bệnh viện trên cho thấy lượng nhiệt kế thuỷ ngân sử dụng và phát thải ra môi trường là vô cùng lớn.
Trình bày tại hội nghị, Thạc sỹ Phạm Huy Đông – Giám đốc trung tâm Kỹ thuật môi trường và An toàn hoá chất cho biết, đáng lo ngại hơn, không chỉ lượng nhiệt kế thuỷ ngân được sử dụng tràn lan với khối lượng lớn, khi nhiệt kế bị vỡ, quy trình xử lý chất thải nguy hại này tại các bệnh viện đang có vấn đề. Ông Đông dẫn chứng, qua khảo sát tại một số bệnh viện, khi nhiệt kế vỡ làm rơi thuỷ ngân rơi xuống ga giường, nhân viên y tế lại hướng dẫn bệnh nhân túm ga lại để đem giặt, việc làm này rất nguy hiểm.
Số liệu từ Tổng cục Hải quan cho thấy nhiệt kế thuỷ ngân nhập khẩu trong 3 năm (từ 2016 tới 2018) khoảng 6 triệu chiếc. Với số lượng lớn các cơ sở khám chữa bệnh trên toàn quốc, đại diện Cục hoá chất cho rằng, việc loại trừ hoàn toàn nhiệt kế thuỷ ngân trước năm 2020 theo quy định của Công ước Minamata là rất khó thực hiện, cần có các quy định bắt buộc của pháp luật.
Bên cạnh phát thải thuỷ ngân qua sản phẩm nhiệt kế, lượng phát thải thuỷ ngân qua các sản phẩm dân dụng như bóng đèn cũng rất lớn. Việt Nam hiện có 5 doanh nghiệp lớn sản xuất và kinh doanh bóng đèn có chứa thuỷ ngân. Các loại đèn huỳnh quang có chứa thuỷ ngân bao gồm: Đèn huynh quang Compact (CPL); Đèn huỳnh quang tuyến tính (LFLs); Đèn khí thuỷ ngân áp suất cao.
Thuỷ ngân kim loại là thành phần không thể thiếu trong công nghệ sản xuất bóng đèn huỳnh quang hiện nay. Theo kết quả khảo sát của nhà thầu Cục Hoá chất, sản lượng bóng đèn huỳnh quang và compact của công ty Điện Quang là 11,2 triệu chiếc, đối với công ty Rạng Đông là 8,6 triệu chiếc/ năm.
|
Năm |
Mức tiêu thụ thuỷ ngân của Cty Điện Quang |
Mức tiêu thụ thuỷ ngân của Cty Rạng Đông |
|
2015 |
148,92 kg/năm |
718,8 kg/năm |
|
2016 |
129,42 kg/năm |
424,28 kg/năm |
|
2017 |
95,34 kg/năm |
306,6 kg/năm |
|
Tới tháng 8/2018 |
40,58 kg/năm |
131,4 kg/năm |
Tuy vậy, đại diện các nhà sản xuất lạc quan cho rằng, lượng thuỷ ngân sử dụng đang giảm dần do hiện nay có bóng đèn led thay thế. Đèn led tuy giá thành cao nhưng có nhiều ưu điểm vượt trội và được thị trường ưa chuộng. Sản lượng sản xuất đèn led của công ty Điện Quang và Rạng Đông lần lượt là 6.8 triệu chiếc và 33 triệu chiếc mỗi năm. Theo đó, tiến tới các doanh nghiệp sẽ dừng hẳn sản xuát đèn huỳnh quang.
Phát thải thuỷ ngân trong sản xuất công nghiệp
Trong sản xuất công nghiệp, thuỷ ngân phát thải chủ yếu từ nguồn than và các loại quặng… thông qua xỉ thải, nước thải, tro bụi và thành phẩm.
Trong gói thầu “Điều tra và kiểm kê phát thải Thuỷ ngân từ các nguồn thải công nghiệp chính” do nhà thầu Mecie thực hiện trong 04 ngành công nghiệp lựa chọn kiểm kê, bao gồm: 05 nhà máy nhiệt điện; 04 nhà máy xi măng; 04 nhà máy xử lý chât thải; 02 nhà máy luyện kim …đã đưa ra được bức tranh toàn cảnh lượng phát thải thuỷ ngân từ các ngành công nghiệp tại Việt Nam.
Sử dụng bộ công cụ Toolkit level2 (bộ công cụ để xác định hệ số và định lượng phát thải thuỷ ngân được xây dựng bởi Chương trình Môi trường Liên hợp quốc (UNEP)), bằng các phương pháp: Khảo sát lấy mẫu trực tiếp tại nhà máy để phân tích trong phòng thí nghiệm; Phiếu điều tra; Đánh giá, so sánh, điều chỉnh; Tính toán, suy rộng … báo cáo tại hội nghị, nhà thầu Mecie đã đưa ra con số phát thải thuỷ ngân: Sản xuất xi măng 9.402,79 kg/năm; Luyện kim 2.690,89 kg/năm; Đốt chất thải 10.613,3 kg/năm; Nhiệt điện đốt than 5.077,49 kg/năm.
Số liệu kiểm kê lượng phát thải thuỷ ngân trên khiến các đại biểu trong hội nghị không khỏi quan ngại. Một số ý kiến tại hội nghị cho rằng, các số liệu do nhà thầu Mecie điều tra, kiểm kê so sánh với các điều tra trước đó của Bộ công thương có sự chênh lệch tương đối lớn… được giải thích do nhà thầu sử dụng bộ công cụ mới (toolkit level 2), trong khi số liệu cũ được thực hiện trên bộ công cụ toolkit level 1.
Tham vấn tại hội nghị, PGS.TS Phùng Chí Sỹ cho rằng, số liệu được nhà thầu thực hiện chỉ với một số lượng nhỏ nhà máy trong 04 ngành công nghiệp, lại sử dụng bộ công cụ mới, nếu có sai lệch số liệu cũng là dễ hiểu. Ngay cả khi thực hiện khảo sát kiểm kê trên tất cả các nhà máy công nghiệp tại Việt Nam thì sai số cũng là đáng kể bởi hàm lượng thuỷ ngân trong than và quặng là bất định.
Trong mục đích của dự án là đánh giá được nguồn phát thải thuỷ ngân làm căn cứ để xây dựng pháp luật nhằm kiểm soát các vấn đề về môi trường và sức khoẻ con người thì những nỗ lực kiểm kê trên của nhà thầu đã “hoàn thành nhiệm vụ” và rất đáng ghi nhận, ông Sỹ nhấn mạnh.
Dự án Quản lý an toàn các chất ô nhiễm hữu cơ khó phân huỷ (POP) và hoá chất nguy hại (PTS) tại Việt Nam
Nhà tài trợ: Quỹ môi trường Toàn cầu (GEF) uỷ thác thông qua Chương trình Phát triển Liên hợp quốc (UNDP);
Cơ quan chủ quản: Bộ Tài nguyên và Môi trường;
Chủ dự án: Tổng cục Môi trường (Bộ TNMT);
Cơ quan đồng thực hiện: Cục Hoá chất (Bộ Công thương);
Thời gian thực hiện: 2015-2020;
Địa điểm thực hiện: Toàn quốc.
Mục tiêu cần đạt được của dự án: Xây dựng, bổ sung khung pháp lý và thể chế tích hợp để triển khai hiệu quả hơn các quy định của Công ước Stockholm về các chất POP; Xây dựng và phát triển thí điểm Hệ thống đăng ký chuyển giao và phát thải chất ô nhiễm (PRTR) và áp dụng cho ít nhất 20% nguồn thải công nghiệp tại một tỉnh được lựa chọn để quản lý an toàn về môi trường và báo cáo các chất POP, thuỷ ngân; Phát triển khung quản lý an toàn về môi trường đối với hoá chất, hướng tới tăng cường năng lực quản lý các khu vực bị ô nhiễm POP và thừa kế được các kết quả, kinh nghiệm từ các dự án trong chu kỳ GEF4 và chương trình, dự án quốc gia.
Dự án gồm 04 hợp phần với 27 kết quả đầu ra: Xây dựng và thực thi khung chính sách quản lý an toàn về môi trường đối với POPs và PTS; Quan trắc và báo các các chất POP và PTS; Quản lý các khu vực bị ô nhiễm các chất POP; Kiểm kê Thuỷ ngân Quốc gia và xây dựng chiến lược giảm phát thải.
Xem thêm các công trình xử lý nước thải tại <Đây>
Dịch vụ xử lý môi trường chuyên nghiệp <Đây>
Các tin tức môi trường <Đây>
Để được tư vấn về môi trường, dịch vụ xử lý môi trường, xử lý nước thải. Quý khách vui lòng liên hệ:
Công ty Môi trường Phú Tiến
Website: http://dichvumoitruongbinhduong.com Email: mtphutien@gmail.com
Hotline: 0348 49 51 52
- Điều 111, Luật số: 72/2020/QH14 - Đối tượng Quan trắc tự động nước thải(01/12/2021)
- Điều 112, Luật số: 72/2020/QH14 - Đối tượng Quan trắc tự động bụi, khí thải(01/12/2021)
- Điều 119, Luật số: 72/2020/QH14 - Báo cáo công tác bảo vệ môi trường(01/12/2021)
- Điều 28, Luật số: 72/2020/QH14 - Quy định cụ thể phạm vi các dự án phải xin cấp phép và phê duyệt về môi trường(01/12/2021)
- Điều 81 - 82, Luật số: 72/2020/QH14 - Chất thải rắn công nghiệp thông thường được phân loại thành các nhóm(01/12/2021)
- Điều 83, Luật số: 72/2020/QH14 - Quản lý chất thải nguy hại(01/12/2021)
- NƯỚC THẢI NGUY HẠI VÀ QUÁ TRÌNH FENTON TRONG XỬ LÝ NƯỚC THẢI(25/11/2022)
- Xử lý khí thải sơn(30/11/2022)
- CÔNG NGHỆ XỬ LÝ NƯỚC THẢI DỆT NHUỘM(05/12/2022)
- CẢI TẠO HỆ THỐNG XỬ LÝ NƯỚC THẢI(20/02/2023)
- Hóa chất PAC và ứng dụng của hóa chất PAC trong xử lý nước thải(20/02/2023)
Lô K48 - Căn 85, Đường NK14A, Khu dân cư Mỹ Phước 3, Phường Thới Hoà, Thị xã Bến Cát, Tỉnh Bình Dương
mtphutien@gmail.com
Support24/7:


Số Người Online:
Hôm Nay:
Tuần Này:
Tổng Truy Cập: